Vị giáo sư theo Cách mạng, thay đổi số phận hàng nghìn bệnh nhân phong (Video: Đoàn Thủy).


Bệnh phong là bệnh nhiễm trùng mạn tính do vi khuẩn Mycobacterium leprae gây ra, chủ yếu ảnh hưởng đến da, dây thần kinh ngoại biên, mắt và niêm mạc đường hô hấp.
Từng có thời, căn bệnh phong bị nhìn nhận như một “án tử” khủng khiếp.
“Không một căn bệnh nào lại khiến con người bị xa lánh đến vậy”, cuốn sách “Đặng Vũ Hỷ - Cuộc đời và Sự nghiệp” do trường Đại học Y Hà Nội xuất bản năm 2009, đã ghi lại như thế về số phận người phong cái thời vẫn được xếp vào “tứ chứng nan y”.
Điều khủng khiếp nhất không nằm ở căn bệnh, mà ở những di chứng nó để lại.
Trên thân thể người bệnh, làn da loang lổ, gương mặt biến dạng. Có người cụt ngón, có người co quắp cả bàn tay, bàn chân.
Người bệnh phong không chỉ gánh chịu nỗi đau thể xác, mà còn từng bị tước đi quyền hiện diện như một con người bình thường: họ bị xua rời khỏi gia đình, lẩn tránh trong những miền hẻo lánh, sống côi cút như thể đã bị gạch tên khỏi xã hội.

Những năm đầu sau khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp kết thúc thắng lợi, hệ thống y tế ở miền Bắc còn non trẻ. Khi ấy, chỉ có một số ít bệnh nhân phong nặng được tập trung điều trị tại các trại phong.
Số còn lại là hàng nghìn người vẫn lang thang trên đường, sống lay lắt bằng nghề ăn xin. Hình ảnh những người mang cơ thể biến dạng, lê lết khắp ngõ chợ, khiến người ta bất an.
Trong những ngày nhiều người quay lưng với bệnh nhân phong, có một vị bác sĩ vẫn miệt mài đi ngược số đông, góp sức mình vào sứ mệnh cứu lấy những phận người “sống mòn” vì bệnh tật. Ông là GS.BS Đặng Vũ Hỷ (1910-1972).
Cuốn sách “Đặng Vũ Hỷ - Cuộc đời và sự nghiệp” đã ghi lại nhiều câu chuyện trong ký ức người thân và học trò của ông.
Ngược dòng lịch sử về đầu thế kỷ 20, Giáo sư Đặng Vũ Hỷ sinh năm 1910 tại Nam Định, tốt nghiệp bác sĩ nội trú Da liễu tại Paris năm 1937, là bác sĩ Việt Nam đầu tiên được tuyển dụng tại Bệnh viện Saint-Lazare.
Trở về nước, ông được mời làm Bác sĩ trưởng của Bệnh viện mỏ than Đông Triều nhưng ông từ bỏ để mở phòng mạch tư do bất bình với chế độ thực dân hà khắc.
Cách mạng Tháng Tám bùng lên, ông từ bỏ tất cả, đóng cửa phòng mạch và tham gia Cách mạng. Ông giảng dạy tại Trường Đại học Y Dược Hà Nội theo lời mời của GS Hồ Đắc Di, đồng thời trực tiếp điều trị tại Nhà thương Đồn Thủy (nay là khuôn viên Bệnh viện 108 và Hữu Nghị).
Khi kháng chiến toàn quốc bùng nổ, ông hòa mình cùng dân tộc bước vào cuộc trường kỳ gian khổ cho đến ngày thắng lợi hoàn toàn.
Với chuyên môn da liễu, ông đặc biệt quan tâm bệnh nhân phong. Không sợ lây, ông tìm đến tận Quỳnh Lập, Văn Môn, Quả Cảm, Phú Bình, Sông Mã.
Ông không chỉ khám và kê đơn, mà còn trò chuyện, bắt tay, chạm vào cơ thể đầy di chứng, để thay đổi cái nhìn xã hội: “Bệnh phong không đáng sợ như người ta nghĩ”.

Giữa lòng Thủ đô, những ký ức về người cha, người thầy thuốc vẫn vẹn nguyên trong căn nhà của GS.TS Đặng Thị Kim Chi – con gái cố GS.BS Đặng Vũ Hỷ.
Là con gái út của GS Hỷ, mặc dù đã cao tuổi, bà vẫn tiếp tục công việc nghiên cứu khoa học, vẫn giữ cho mình nếp sống giản dị mà cha từng dạy.
Gặp chúng tôi vào một buổi chiều tháng 8, bà để trên bàn những kỷ vật của cha - những bức hình in hằn dấu vết thời gian cùng những câu chuyện chưa từng phai trong trí nhớ.
Thuở còn là nữ sinh phổ thông, GS Đặng Thị Kim Chi vẫn thường tìm tòi những tập tài liệu của cha để đọc.
Một ngày, bà rút ra một tập luận văn. Trên bìa, những dòng chữ nắn nót hiện lên: “Hình ảnh người khốn khổ trong “Những người khốn khổ” của Vích-to Huy-gô”.
“Dòng tiêu đề viết tặng khiến tôi khựng lại rất lâu”, bà nhớ lại.
Dòng chữ viết tay: “Kính tặng GS Đặng Vũ Hỷ, người thầy thuốc kính mến đã đưa cháu trở về với cuộc sống, đã cho cháu niềm tin tốt đẹp vào con người”.

Bà kể, người sinh viên ấy mắc một chứng bệnh da liễu khó chữa, từng bị bạn bè xa lánh đến mức tưởng như phải bỏ học, phải vào trại phong sống. Gặp GS Hỷ, cậu sinh viên trẻ được động viên và điều trị, dần khỏe lại và trở về giảng đường.
Chỉ vì nghi là bệnh phong, cậu sinh viên đã chịu sự kỳ thị lớn như thế, có thể phần nào hình dung được áp lực mà bệnh nhân phong phải chịu vào thời kỳ đó.
“Tôi lớn lên trong những ký ức về ba như thế”, GS Đặng Thị Kim Chi nói.
Khi nhớ lại, giọng bà như lẫn trong những ký ức tuổi thơ ngày cũ: “Mỗi lần ba trở về từ trại phong, ông thường mang theo cả một thế giới của những phận người khốn khổ”.
“Hồi còn nhỏ, tôi hay được ba kể rằng, mỗi lần về các trại phong, ông lại tay bắt mặt mừng với những bệnh nhân đã quen biết từ lâu, cùng họ trò chuyện, ngồi ăn với họ. Mặc dù, trại đã chuẩn bị sẵn cho ba một bữa chiêu đãi trọng thể", GS Chi nhớ lại.
Con gái vị cố giáo sư kể, hồi nhỏ bà từng nghe ba nhắc nhiều lần về chuyến đi Quảng Ninh.
Khi ấy, GS Hỷ nghe tin dân chăn vịt nơi này ai cũng khổ sở vì những vết lở loét ở chân sau nhiều năm lội ruộng.
Vị thầy thuốc không ngại xắn quần, mặc áo ba lỗ, đội chiếc mũ lá, lội đủ các ruộng ngập nước mà dân bị bệnh lở loét cho biết họ đã từng chăn vịt ở đó.
“Ba kể, ba đã ghi chép cẩn thận từng chi tiết. Về nhà dân, ba lại xem các vết lở ở chân dân chăn vịt, so với những vết trên chân của chính mình.
“Sau này, chính từ trải nghiệm ấy, ba đã làm ra loại kem bôi chân cho những người chăn vịt, để họ không còn phải chịu cảnh lở loét triền miên nữa”, bà kể lại.
Những câu chuyện ấy, lúc còn nhỏ bà chưa thể hiểu hết, nhưng theo năm tháng lại hóa thành ký ức hằn sâu, dạy bà về sự nhân hậu và lòng kiên nhẫn.
Sau này, khi có dịp đến trại phong Quy Hòa - nơi ngày nay dựng bức tượng cha mình, GS Đặng Thị Kim Chi mới tận mắt thấy điều mà cha mình từng kể.
Bà gặp những bệnh nhân đã chữa khỏi phong lặng lẽ bày bán vài gói hương, vài món đồ lặt vặt.

Họ bảo rằng bệnh đã hết, nhưng chẳng thể nào trở về quê hương. Bởi vì ở quê nhà, cả làng vẫn sợ và không chấp nhận người đã bị bệnh phong.
“Thế nên họ xin ở lại”, GS Kim Chi nói chậm rãi, tay lật từng tấm ảnh chụp cùng cha, như lần giở những mảnh hồi ức.
Khỏi bệnh không đồng nghĩa với việc được trở lại làm người bình thường trong xã hội.
Đối diện với những ánh mắt kỳ thị như đè nặng cả đời, nhiều bệnh nhân phong chọn ở lại trại, sống cô độc tới cuối đời.
Những trại phong từ chỗ chỉ là nơi điều trị, dần biến thành quê hương thứ hai của bệnh nhân phong. Ở đó, những người từng chung cảnh ngộ nương tựa vào nhau, lập gia đình, sinh con, để rồi hình thành cả những thế hệ nối tiếp sau này.


Trong ký ức của GS Chi, ngoài những câu chuyện bà được nghe trực tiếp từ cha, còn có những hồi ức bà được nghe từ mẹ - cụ Phạm Thị Thức.
“Mẹ tôi kể, có lần ba về thăm trại phong. Bệnh nhân ở đó mừng quá, ôm vội một quả mít mang biếu. Cậu đi cùng thấy vậy liền lấy tờ báo trải ra đỡ lấy trái mít, sợ ba tôi phải chạm vào tay người bệnh”, GS Chi nói.
Nhưng GS Hỷ khẽ gạt đi: “Không cần đâu”.
“Ba bảo, ba sẵn sàng bắt tay với người bệnh phong”, bà kể.
Những bàn chân loét ổ gà, những ngón tay rụng trơ xương, những vết thương rớm máu chẳng bao giờ liền sẹo đó là hình ảnh thường thấy nơi những người mắc phong, những phận người bị bỏ quên.

Nhưng trong mắt GS Đặng Vũ Hỷ, họ không phải là những “kẻ bị xã hội ruồng bỏ”. Như lời ông dặn học trò mình, ghi lại trong cuốn “Đặng Vũ Hỷ - sự nghiệp và cuộc đời”:
“Chiến tranh, đói nghèo, lạc hậu đã làm sản sinh ra hàng vạn bệnh nhân phong. Nay đất nước đã giành độc lập, bước vào tái thiết, thì ai sẽ là người giúp đỡ họ, nếu không phải là chính thế hệ chúng ta hôm nay?”.
Từ tầm nhìn ấy, cùng với một trái tim chất chứa tình thương và sự thấu cảm trước nỗi tủi nhục của bệnh nhân, GS Hỷ đã đề ra chủ trương: xây dựng chuyên khoa phẫu thuật riêng cho người phong, nghiên cứu chỉnh hình và điều trị phục hồi.

Tại Việt Nam, tỷ lệ mắc mới bệnh phong đã giảm mạnh trong những thập kỷ qua. Việc phát hiện và chữa trị phong gắn với y tế cơ sở, được quản lý từ nội trú đến ngoại trú giúp hạ dần tỷ lệ bệnh, tiến tới thanh toán phong từng huyện, từng tỉnh.
Theo số liệu Hội nghị da liễu toàn quốc năm 2023, tất cả tỉnh thành đều đã được công nhận loại trừ bệnh phong, chỉ xuất hiện rải rác.
Số ca bệnh giảm mạnh qua các năm.
Theo báo cáo trên, cả nước chỉ phát hiện trên 400 ca mới và quản lý khoảng 8.000 bệnh nhân phong, giảm hơn 50% so với giai đoạn trước nhờ có phác đồ chữa trị, quản lý kịp thời, chống lây nhiễm trong cộng đồng.

Hiện nay, nhờ Chương trình Chống phong Quốc gia và sự hỗ trợ từ Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), bệnh phong có thể điều trị khỏi hoàn toàn.
Việt Nam đã đạt được tiêu chuẩn loại trừ bệnh phong của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) từ năm 1995 với tỷ lệ lưu hành là 0,9/10.000 dân số.
Báo cáo của WHO hồi tháng 7/2025 cũng chỉ ra, mục tiêu của Việt Nam còn tham vọng hơn: hướng tới không còn lây truyền, không còn tàn tật và không còn kỳ thị hay phân biệt đối xử với bệnh nhân phong vào năm 2030.
Khi tuân thủ đúng phác đồ, bệnh nhân khỏi hoàn toàn, không còn khả năng lây bệnh sau một thời gian ngắn điều trị.
Vòng tròn của những hồi ức khép lại ở nơi khởi nguồn: từ cái nắm tay ấm áp của Giáo sư Đặng Vũ Hỷ đưa người bệnh phong trở về trước sự kinh ngạc của dân làng, để rồi tiếp nối bằng tình thương và sự dấn thân lặng lẽ của bao thế hệ áo blouse trắng hôm nay, cùng chung khát vọng xóa bỏ bệnh phong khỏi cộng đồng.

Nguồn: https://dantri.com.vn/suc-khoe/vi-giao-su-theo-cach-mang-thay-doi-so-phan-hang-nghin-benh-nhan-phong-20250830203647811.htm
Bình luận (0)